Trở về trang chính: Phát Thanh Dân Chủ 2006 Trở về trang Khối 8406
![]() |
|
Nhạc: Dân Chủ 8406 - Sáng tác và trình bày Trường Hải

Khối 8406 Công bố lần 12
Kỷ niệm 8 tháng Tuyên ngôn 8406
dựa trên 3 Văn bản nền tảng :
Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006 ngày 8-4-2006 (Tuyên ngôn 8406)
& 10 Điều kiện cơ bản thiết yếu
để cuộc Bầu cử Quốc hội 2007 Đa đảng Tự do Dân chủ thực sự ngày 20-6-2006
& Tiến trình Dân chủ hoá Việt Nam 4 Giai đoạn 8 bước ngày 22-8-2006
I- Tuyên Ngôn
Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006
của 118 & hàng vạn Chiến sĩ Dân chủ Hoà bình (CSDCHB) quốc nội & hải ngoại Việt Nam
� & �
Việt Nam, ngày 8 - 4 - 2006
& ngày 8 - 12 - 2006
Kính gửi Đồng bào Việt Nam ở trong và ngoài Nước,
Chúng tôi, ký tên dưới đây, đại diện cho hàng trăm nhà đấu tranh Dân chủ ở quốc nội và tất cả mọi người Dân nào đang khao khát một nền Dân chủ chân chính cho Quê hương Việt Nam hôm nay, đồng thanh lên tiếng :
I. Thực trạng của Việt Nam
1- Trong cuộc Cách mạng tháng 8-1945, sự lựa chọn của toàn Dân tộc ta là Độc lập Dân tộc, chứ không phải là chủ nghĩa xã hội. Bản Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 2-9-1945 chẳng nhắc đến một từ nào về chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản cả. Hai nguyên nhân chính làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng ấy là Khát vọng Độc lập Dân tộc và Khoảng trống quyền lực lúc bấy giờ ở Việt Nam (thực dân Pháp đã bị quân Nhật đảo chính cướp quyền từ ngày 9-3-1945 và quân Nhật đã đầu hàng phe Đồng minh ngày 15-8-1945).
Rõ ràng mục tiêu của cuộc cách mạng ấy đã bị đảng Cộng sản Việt Nam đánh tráo. Và dĩ nhiên, Quyền Dân tộc tự quyết cũng hoàn toàn bị thủ tiêu. Đã có ít nhất 2 cơ hội lịch sử rất thuận lợi là năm 1954 ở miền Bắc và năm 1975 trên cả nước, để Dân tộc khẳng định Quyền tự quyết của mình. Nhưng tất cả đều đã bị đảng Cộng sản Việt Nam tráo trở không thực hiện. Vì một khi nền chuyên chính vô sản đã được thiết lập, thì theo Lênin, chức năng đầu tiên của nó chính là : bạo lực và khủng bố trấn áp !
2- Tiếp đến, ngày 2-9-1945 tại Hà Nội, ông Hồ Chí Minh, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã trịnh trọng tuyên bố với Dân tộc và với Thế giới rằng : "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo Hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được ; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Lời nói bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập nǎm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là : mọi Dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp nǎm 1791 cũng nói : "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi ; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi". Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được…”. (trích Tuyên Ngôn Độc Lập 2-9-1945).
Thế nhưng, tất cả những quyền thiêng liêng ấy của Dân tộc đều bị chà đạp thô bạo ngay sau đó, khi mà chính quyền cộng sản được dựng lên.
3- Đến tháng 2-1951 Tuyên ngôn của đảng Lao động Việt Nam (nay là đảng Cộng sản Việt Nam) kỳ đại hội lần thứ 2, đã viết: “Chủ nghĩa của Đảng là chủ nghĩa Mác–Lênin”. Và trong Điều Lệ, phần Mục Đích và Tôn Chỉ còn khẳng định rõ ràng hơn : “Đảng Lao động Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Ǎngghen - Lênin - Xtalin và tư tưởng Mao Trạch Đông, kết hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng…”.
Kể từ đó, nhất là ở miền Bắc sau năm 1954, rồi cả nước sau ngày 30-4-1975, bóng ma của chủ nghĩa cộng sản đã luôn đè ám lên đầu, lên cổ toàn Dân Việt Nam. Chính cái bóng ma ấy chứ không phải là cái gì khác đã triệt tiêu hầu hết những quyền con người của Nhân dân Việt Nam. Và hôm nay, nó vẫn đang tạm đô hộ, chiếm đóng lên cả 2 mặt tinh thần và thể chất của toàn Dân tộc Việt Nam.
II. Qui luật phổ biến toàn cầu
1- Lịch sử đã minh định rằng mọi quyền tự do, dân chủ ở bất cứ một chế độ độc đảng toàn trị nào, dù cộng sản hay không cộng sản, cũng đều bị chà đạp không thương tiếc, chỉ khác nhau ở mức độ mà thôi. Bất hạnh thay là cho đến nay, Dân tộc Việt Nam vẫn thuộc về một trong số ít các Quốc gia trên thế giới còn bị cai trị bởi chế độ độc đảng toàn trị cộng sản. Điều này thể hiện cụ thể tại Điều 4 của Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hiện hành, rằng : “Đảng cộng sản Việt Nam... theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội.” Chính vì điều này mà các quyền tự do, dân chủ của Nhân dân đã hoàn toàn bị triệt tiêu, may ra chỉ còn vài mẩu vụn mà thôi !
2- Chính hệ thống quyền lực không hề chấp nhận cạnh tranh và không hề chấp nhận bị thay thế này đã thúc đẩy mạnh mẽ đà thoái hoá, biến chất của toàn bộ hệ thống ấy. Vì chẳng có qui luật và nguyên tắc cạnh tranh công bằng nào trên chính trường, nên sau những kỳ bầu cử toàn Dân không thể chọn được những con người và những lực lượng chính trị xứng đáng nhất. Bộ máy lãnh đạo, quản lý và điều hành do vậy ngày càng hư hỏng, rệu rã từ trung ương xuống cơ sở địa phương. Hậu quả là Việt Nam hôm nay trở thành Quốc gia bị tụt hậu quá xa so với các Nước trong khu vực và thế giới. Quốc nhục này và các quốc nạn khác khó bề tẩy xóa. Vấn đề của mọi vấn đề, nguyên nhân của mọi nguyên nhân chính vì đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo Đất nước ! Thực tiễn đã xác minh rằng bất kỳ Nước nào đã bị rơi vào quỹ đạo của chủ nghĩa cộng sản thì đều điêu tàn thê thảm cả. Liên Xô, cái nôi cộng sản, cùng với các Nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu khác, đã dũng cảm vượt qua chính mình để quay lại tìm đường đi đúng cho Dân tộc họ.
3- Chúng ta đều hiểu rằng : không ai có thể sửa được lịch sử, nhưng có thể bẻ chiều lịch sử. Và điều quan trọng hơn là qua những bài học của lịch sử, định hướng tốt cho tương lai. Con đường hôm qua của Dân tộc ta đã bị những người Cộng sản Việt Nam chọn một cách vội vàng, thiếu chín chắn và áp đặt cho cả Dân tộc một cách khiên cưỡng. Con đường ấy thực tế đã chứng minh là hoàn toàn sai lạc. Vì vậy Dân tộc ta hôm nay phải chọn lại con đường cho mình. Và chắc chắn cả Dân tộc cùng chọn sẽ tốt hơn một người hay một nhóm người nào đó. Đảng cộng sản Việt Nam cũng chỉ là một bộ phận của Dân tộc, nên không thể mạo danh Dân tộc để chọn thay ! Trước Dân tộc và lịch sử suốt hơn nửa thế kỷ qua (1954–2006), Đảng cầm quyền ấy đã tiếm danh chứ không chính danh chút nào ! Bởi lẽ các cuộc bầu cử thực sự tự do hoàn toàn vắng bóng ở Việt Nam.
Từ thực trạng và qui luật trên đây, với ý thức trách nhiệm của Công dân trước vận mệnh Đất nước, chúng tôi xin được phép giãi bày cùng toàn thể Đồng bào Việt Nam trong và ngoài Nước :
III. Mục tiêu, phương pháp và ý nghĩa cuộc đấu tranh
1- Mục tiêu cao nhất trong cuộc đấu tranh giành tự do, dân chủ cho Dân tộc hôm nay là làm cho thể chế chính trị ở Việt Nam hiện nay phải bị thay thế triệt để, chứ không phải được “đổi mới” từng phần hay điều chỉnh vặt vãnh như đang xảy ra. Cụ thể là phải chuyển từ thể chế chính trị nhất nguyên, độc đảng, không có cạnh tranh trên chính trường hiện nay, sang thể chế chính trị đa nguyên, đa đảng, có cạnh tranh lành mạnh, phù hợp với những đòi hỏi chính đáng của Đất nước, trong đó hệ thống tam quyền Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp phải được phân lập rõ ràng, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế và trải nghiệm của Nhân loại qua những nền dân chủ đắt giá và đầy thành tựu.
Mục tiêu cụ thể là thiết lập lại các quyền cơ bản của toàn Dân sau đây :
- Quyền Tự do Thông tin Ngôn luận theo Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị của Liên Hiệp Quốc được biểu quyết ngày 16.12.1966, Việt Nam xin tham gia ngày 24-9-1982, điều 19,2 : “Mọi người có quyền tự do ngôn luận, quyền nầy bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức truyền miệng, bằng bản viết, bản in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật hoặc thông qua bất cứ phương tiện truyền thông đại chúng khác tuỳ theo sự lựa chọn của mình”. Nghĩa là các đảng phái, tổ chức, cá nhân có quyền thông tin ngôn luận qua báo chí, phát thanh, truyền hình và các phương tiện truyền thông đại chúng khác mà không cần đợi phép của nhà cầm quyền.
- Quyền Tự do hội họp, lập hội, lập đảng, bầu cử và ứng cử theo Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị, điều 25 : “Mọi Công dân… đều có quyền và cơ hội để (a) tham gia vào việc điều hành các công việc xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua những đại diện được họ tự do lựa chọn”; (b) bầu cử và ứng cử trong các cuộc bầu cử định kỳ chân thực, bằng phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín nhằm đảm bảo cho cử tri tự do bày tỏ ý nguyện của mình”. Nghĩa là các đảng phái thuộc mọi khuynh hướng cùng nhau cạnh tranh lành mạnh trong một nền dân chủ đa nguyên, đa đảng chân chính.
- Quyền Tự do hoạt động Công đoàn độc lập và Quyền Đình công chính đáng theo Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, được Liên Hiệp Quốc biểu quyết ngày 16-12-1966, Việt Nam xin tham gia ngày 24-9-1982, điều 7 và 8 : “Các Quốc gia thành viên của Công ước công nhận quyền của mọi người được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi…, quyền của mọi người được thành lập và gia nhập Công đoàn mà mình lựa chọn, chỉ phải tuân theo quy chế của Tổ chức đó để thúc đẩy và bảo vệ các lợi ích kinh tế và xã hội của mình… (với) quyền đình công…”. Các công đoàn này phải là những tổ chức duy nhất hoạt động độc lập, không có những loại Công đoàn tay sai của nhà cầm quyền.
- Quyền Tự do Tôn giáo theo Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị, điều 18 : “Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo. Quyền tự do này bao gồm tự do có hoặc theo một Tôn giáo hoặc Tín ngưỡng do mình lựa chọn, tự do bày tỏ Tín ngưỡng hoặc Tôn giáo một mình hoặc trong tập thể với nhiều người khác, một cách công khai hoặc thầm kín dưới hình thức thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và truyền đạo”. Các Tôn giáo này phải hoạt động độc lập, chứ không thể bị biến thành công cụ cho nhà cầm quyền.
2- Phương pháp của cuộc đấu tranh này là hòa bình, bất bạo động. Và chính Dân tộc Việt Nam chủ động thực hiện cuộc đấu tranh này. Tuy nhiên, chúng ta rất cảm ơn sự ủng hộ nhiệt tình và ngày càng hiệu quả của tất cả những bạn bè trên thế giới. Thông qua những phương tiện thông tin hiện đại và qua sự giao lưu quốc tế ngày càng rộng mở, chúng ta sẽ tìm mọi cách giúp Đồng bào kiện toàn nhận thức. Và một khi Nhân dân đã có nhận thức đúng và rõ thì nhất định sẽ biết hành động thích hợp và hiệu quả.
3- Ý nghĩa của cuộc đấu tranh này là làm cho chính nghĩa thắng phi nghĩa, tiến bộ thắng lạc hậu, các lực lượng dân tộc đang vận dụng đúng quy luật của cuộc sống và xu thế của thời đại thắng những tà lực đang tìm cách đi ngược lại những xu thế và quy luật ấy. Đảng cộng sản Việt Nam vẫn còn đồng hành cùng Dân tộc hay không là tùy ở mức độ đảng ấy có khách quan, công bằng, sáng suốt và khiêm tốn chấp nhận các nguyên tắc bình đẳng của cuộc cạnh tranh lành mạnh hay không, chỉ có thể chế chính trị độc đảng ấy là dứt khoát phải bị chôn táng vĩnh viễn vào quá khứ. Từ đó, Dân tộc sẽ tìm được những con người tốt nhất, những lực lượng chính trị giỏi nhất sau mỗi kỳ bầu cử để lãnh đạo Đất nước. Nguyên tắc “lẽ phải toàn thắng” sẽ được thiết lập và cuộc sống cá nhân sẽ trở nên tốt hơn, xã hội sẽ trở nên nhân bản hơn và Đồng bào sẽ sống với nhau thân thiện hơn.
Chúng tôi mong ước Tuyên ngôn này thúc đẩy được sự đóng góp tích cực của Đồng bào trong ngoài Nước và sự ủng hộ của Bạn bè Quốc tế. Chúng tôi chân thành cảm ơn và kêu gọi các Cơ quan Liên Hiệp Quốc, các Quốc hội, Chính phủ, Tổ chức Quốc tế và Bạn bè trên toàn thế giới tiếp tục ủng hộ cách nhiệt tình và hiệu quả cho cuộc đấu tranh đầy chính nghĩa này, góp phần đưa Tổ quốc Việt Nam sớm sánh vai cùng các Nước văn minh, đạo đức, thịnh vượng, tự do trong cộng đồng Nhân loại hôm nay.
Đồng tuyên bố tại Việt Nam ngày 8 tháng 4 năm 2006
và ngày 8 tháng 11 năm 2006
? Công bố lần 1 ngày 8-4-2006 gồm 118 CSDCHB quốc nội.
Công bố lần 1b ngày 16-4-2006 Danh sách 118 CSDCHB chính thức không thay đổi.
? Công bố lần 2 ngày 27-4-2006 gồm 166 CSDCHB quốc nội & 155 CSDCHB hải ngoại, chưa kể hơn 13 ngàn CSDCHB ủng hộ trên các trang Web.
? Công bố lần 3 ngày 1-5-2006 gồm 222 CSDCHB quốc nội & 157 CSDCHB hải ngoại,
chưa kể hơn mấy chục ngàn CSDCHB ủng hộ trên các trang Web
& ghi tên trong các cuộc biểu tình mà Khối 8406 chưa có điều kiện thống kê.
? Công bố lần 4 ngày 8-5-2006 gồm 424 CSDCHB & 420 gia đình quốc nội
& 167 CSDCHB hải ngoại, chưa kể hơn mấy chục ngàn CSDCHB ủng hộ trên các trang Web
& ghi tên trong các cuộc biểu tình mà Khối 8406 chưa thể thống kê.
? Công bố lần 4b chiều ngày 8-5-2006 dịp kỷ niệm 1 tháng Tuyên Ngôn 8406
gồm 463 CSDCHB & 420 gia đình quốc nội & 167 CSDCHB hải ngoại,
chưa kể hơn mấy chục ngàn CSDCHB ủng hộ trên các trang Web
& ghi tên trong các cuộc biểu tình mà Khối 8406 chưa thể thống kê.
? Công bố lần 5 ngày 20-5-2006 dịp Khối 8406 gửi Manifesto đến Ông Kofi Annan TTK LHQ
gồm 548 CSDCHB & 420 gia đình quốc nội & 177 CSDCHB & 8 Đại diện CĐNVTD hải ngoại,
chưa kể hơn mấy chục ngàn CSDCHB ủng hộ trên các trang Web
& ghi tên trong các cuộc biểu tình mà Khối 8406 chưa thể thống kê.
? Công bố lần 6 ngày 8-6-2006 dịp kỷ niệm 2 tháng Tuyên Ngôn 8406
gồm 1.664 CSDCHB & 420 gia đình quốc nội & 1.902 CSDCHB & 8 Đại diện CĐNVTD
hải ngoại (1.910), chưa kể hơn mấy chục ngàn CSDCHB ủng hộ trên các trang Web
& ghi tên trong các cuộc biểu tình mà Khối 8406 chưa thể thống kê,
lần nầy 01 nhóm bạn hải ngoại mới chỉ giúp thống kê Web : tudongonluan.atspace.com
? Công bố lần 7 & 7b chiều ngày 8-7-2006
dịp kỷ niệm 3 tháng Tuyên Ngôn 8406
gồm 1.736 CSDCHB & 420 gia đình quốc nội & 20 ngàn Tín hữu Cơ Đốc Phục Lâm
& 2.000 CSDCHB & 8 Đại diện CĐNVTD hải ngoại (2.008 CSDCHB)
& 134 Chính khách Quốc tế ủng hộ & bảo trợ Tuyên ngôn 8406.
chưa kể hơn mấy chục ngàn CSDCHB ủng hộ trên các trang Web
& ghi tên trong các cuộc biểu tình mà Khối 8406 chưa thể thống kê.
w Công bố lần 8 ngày 8-8-2006
dịp kỷ niệm 4 tháng Tuyên Ngôn 8406
gồm 1.839 CSDCHB & 420 gia đình quốc nội
& 20 ngàn Tín hữu Cơ Đốc Phục Lâm & 483 gia đình nông dân Nam Bộ
& 2.018 CSDCHB & 8 Đại diện CĐNVTD hải ngoại (2.026 CSDCHB)
& 137 Chính khách Quốc tế bảo trợ Tuyên ngôn 8406,
chưa kể hơn mấy chục ngàn CSDCHB ủng hộ trên các trang Web
& ghi tên trong các cuộc biểu tình mà Khối 8406 chưa thể thống kê
& 20.000 Tín đồ Cơ Đốc Phục Lâm do 7 Thành viên Ban Đại diện CĐPL toàn quốc ký tên.
& 483 gia đình Nông dân Nam Bộ do 60 CSDCHB đại diện ký tên.
w Công bố lần 9 ngày 8-9-2006
dịp kỷ niệm 5 tháng Tuyên Ngôn 8406
gồm 1.911 CSDCHB & 420 gia đình quốc nội
& 20 ngàn Tín hữu Cơ Đốc Phục Lâm & 483 gia đình nông dân Nam Bộ
& 3.866 CSDCHB & 8 Đại diện CĐNVTD hải ngoại (3.874 CSDCHB)
& 139 Chính khách Quốc tế bảo trợ Tuyên ngôn 8406,
chưa kể hơn mấy chục ngàn CSDCHB ủng hộ trên các trang Web
& ghi tên trong các cuộc biểu tình mà Khối 8406 chưa thể thống kê
& 20.000 Tín đồ Cơ Đốc Phục Lâm do 7 Thành viên Ban Đại diện CĐPL toàn quốc ký tên.
& 483 gia đình Nông dân Nam Bộ do 60 CSDCHB đại diện ký tên.
w Công bố lần 10 ngày 8-10-2006
dịp kỷ niệm 6 tháng Tuyên Ngôn 8406
gồm 1.951 CSDCHB & 420 gia đình quốc nội
& 20 ngàn Tín hữu Cơ Đốc Phục Lâm & 483 gia đình nông dân Nam Bộ
& 3.000 Tín hữu Tin Lành Tây Nguyên
& 3.872 CSDCHB & 9 Đại diện CĐNVTD hải ngoại (3.881 CSDCHB)
& 140 Chính khách Quốc tế bảo trợ Tuyên ngôn 8406,
chưa kể hơn mấy chục ngàn CSDCHB ủng hộ trên các trang Web
& ghi tên trong các cuộc biểu tình mà Khối 8406 chưa thể thống kê :
w Công bố lần 11 ngày 8-11-2006
dịp kỷ niệm 7 tháng Tuyên Ngôn 8406
gồm 2.014 CSDCHB & 420 gia đình quốc nội
& 20 ngàn Tín hữu Cơ Đốc Phục Lâm & 483 gia đình nông dân Nam Bộ
& 3.000 Tín hữu Tin Lành Tây Nguyên
& 3.872 CSDCHB & 9 Đại diện CĐNVTD hải ngoại (3.881 CSDCHB)
& 141 Chính khách Quốc tế bảo trợ Tuyên ngôn 8406,
chưa kể hơn mấy chục ngàn CSDCHB ủng hộ trên các trang Web
& ghi tên trong các cuộc biểu tình mà Khối 8406 chưa thể thống kê :
w Danh sách Công bố lần 12 ngày 8-12-2006
dịp kỷ niệm 8 tháng Tuyên Ngôn 8406
gồm 2.134 CSDCHB & 420 gia đình quốc nội
& 20 ngàn Tín hữu Cơ Đốc Phục Lâm & 483 gia đình nông dân Nam Bộ
& 3.000 Tín hữu Tin Lành Tây Nguyên
& 3.874 CSDCHB & 9 Đại diện CĐNVTD hải ngoại (3.883 CSDCHB)
& 172 Chính khách Quốc tế bảo trợ Tuyên ngôn 8406,
chưa kể hơn mấy chục ngàn CSDCHB ủng hộ trên các trang Web
& ghi tên trong các cuộc biểu tình mà Khối 8406 chưa thể thống kê :
2015. Giáo viên Ngô Thị Diễm Ái, Đà Lạt
2016. Công dân Phạm Thị Ái - thị trấn Cao Thượng – Tân Yên - Bắc Giang
2017. Giáo viên Bùi Đình Anh, Đà Lạt
2018. Công dân Lê Thị Oanh Anh - Tân Văn, Tân Dĩnh, Lạng Giang, Bắc Giang
2019. Công dân Dương Văn Bậc - Lạng Giang - Bắc Giang
2020. Giáo viên Lê Văn Bé, Bến Tre
2021. Giáo viên Huỳnh Văn Bê, Long An
2022. Giáo viên Ngô Xuân Bích, Long An
2023. Công dân Trần Văn Biên - Cao Xanh, Tân Yên, Bắc Giang
2024. Giáo viên Bùi Hoa Bình, Bến Tre
2025. Công dân Nguyễn Thị Bình - Thị trấn Bố Hạ, Yên Thế, Bắc Giang
2026. Giáo viên Nguyễn Tân Bình, Cà Mâu
2027. Công dân Đỗ Văn Bò - Phúc Lâm, Hoàng Minh, Việt Yên, Bắc Giang
2028. Công dân Nguyễn Thị Cậy - Tân Văn, Tân Dĩnh. Lạng Giang, Bắc Giang
2029. Công dân Nguyễn Văn Chuyền - xóm Hà - Mỹ Hà - Lạng Giang - Bắc Giang
2030. Giáo viên Mai Xuân Diệu, Bến Tre
2031. Công dân Nguyễn Văn Đàm - Thôn Trung, Đồng Việt, Yên Dũng, Bắc Giang
2032. Công dân Nguyễn Văn Đăng - Phố Vôi, Lạng Giang, Bắc Giang
2033. Công dân Trần Ngọc Đôn - Liên Sơn, Tân Yên, Bắc Giang
2034. Công dân Đồng Văn Đông - Xóm Kép – An Hà - Lạng Giang - Bắc Giang
2035. Giáo viên Hồ Anh Đồng, Sài Gòn
2036. Công dân Nguyễn Văn Giáp - Thôn Chùa, Xuân Lương, Lạng Giang, Bắc Giang
2037. Công dân Vương Thị Hà - Trần Phú, Bắc Giang
2038. Giáo viên Nguyễn Văn Hai, Bến Tre
2039. Công dân Nguyễn Đình Hải - Thôn Đình, Xuân Lương, Lạng Giạng, Bắc Giang
2040. Công dân Nguyễn Đình Hải - Xuân Hương - Lạng Giang - Bắc Giang
2041. Giáo viên Lê Thị Lệ Hoa, Cà Mâu
2042. Giáo viên Trần Thanh Hải, Long An
2043. Công dân Nguyễn Thị Hạnh - Chùa Nguộn, Nhã Nam, Tân Yên, Bắc Giang
2044. Giáo viên Trần Thị Minh Hạnh, Bến Tre
2045. Giáo viên Lã Vĩnh Hằng, Đà Lạt
2046. Giáo viên Lê Thanh Hằng, Cà Mâu
2047. Giáo viên Lê Thị Thuý Hằng, Bến Tre
2048. Giáo viên Nguyễn Thị Lệ Hằng, Long An
2049. Công dân Hoàng Văn Hóa - Xóm Đông – An Hà - Lạng Giang - Bắc Giang
2050. Công dân Đinh Thị Hòa - Thôn Bái Thượng, xã Đoan Bái, Hiệp Hoà, Bắc Giang
2051. Công dân Trần Thị Hồng - Bố Hạ, Yên Thế, Bắc Giang
2052. Giáo viên Nguyễn Văn Hơn, Phú Yên
2053. Công dân Đỗ Thị Huệ - Hồng Đức, Tân Yên, Bắc Giang
2054. Công dân Vũ Thị Huệ - Toàn Mỹ, Thị trấn Vôi, Lạng Giang, Bắc Giang
2055. Giáo viên Mã Văn Huy, Phú Yên
2056. Công dân Nguyễn Quang Huyên - Nam Cường, Nhã Nam, Tân Yên, Bắc Giang
2057. Giáo viên Lã Văn Hưng, Sài Gòn
2058. Giáo viên Tạ Thị Thu Hương, Phú Yên
2059. Giáo viên Ngô Anh Khoa, Bến Tre
2060. Giáo viên Trần Minh Kỳ, Cà Mâu
2061. Công dân Nguyễn Thị Lan - Tân Dĩnh, Lạng Giang, Bắc Giang
2062. Giáo viên Nguyễn Văn Lan, Phú Yên
2063. Giáo viên Bạch Thị Liên, Bến Tre
2064. Giáo viên Lê Thị Liên, Đà Lạt
2065. Giáo viên Mã Văn Linh, Cà Mâu
2066. Giáo viên Trần Đoàn Linh, Sài Gòn
2067. Giáo viên Mai Lĩnh, Đà Lạt
2068. Giáo viên Lê Thị Hồng Loan, Phú Yên
2069. Giáo viên Mai Thanh Loan, Bến Tre
2070. Giáo viên Trần Công Thanh Long, Bến Tre
2071. Công dân Phạm Thị Lộc - Thị trấn Kép. Bắc Giang
2072. Công dân Dương Văn Lung - Nội Hoàng, Yên Dũng, Bắc Giang
2073. Công dân Đỗ Thị Luyện - Sơn Động, Bắc Giang
2074. Công dân Nguyễn Tiến Lựa - Tiền Phong, Yên Dũng, Bắc Giang
2075. Giáo viên Dương Văn Lượng - Bắc Giang
2076. Giáo viên Nguyễn Thanh Lưu, Đà Lạt
2077. Giáo viên Nguyễn Thị Lưu Ly, Sài Gòn
2078. Giáo viên Nguyễn Văn Lý, Bến Tre
2079. Giáo viên Nguyễn Văn Lý, Phú Yên
2080. Công dân Nguyễn Văn Mai - Tiến Phan, Tân Yên, Bắc Giang
2081. Giáo viên Thân Thị Mai, Phú Yên
2082. Giáo viên Trần Thị Thanh Mai, Sài Gòn
2083. Giáo viên Nguyễn Thị Mây, Long An
2084. Công dân Phạm Văn Mùi - Cao Xá, Tân Yên, Bắc Giang
2085. Giáo viên Nguyễn Văn Mỹ, Cà Mâu
2086. Giáo viên Lê Thị Kiều Nga, Long An
2087. Công dân Nguyễn Văn Nghề - Lục Ngạn - Bắc Giang
2088. Công dân Lê Thanh Nghị - Đồng Việt, Yên Dũng, Bắc Giang
2089. Công dân Ngô Thị Nghiên - Tân Sỏi, Yên Thế, Bắc Giang
2090. Công dân Nguyễn Kim Nhàn - tổ 4 – khu 34- Song Mai –Bắc Giang
2091. Giáo viên Tạ Thị Kiều Nhi, Phú Yên
2092. Công dân Phạm Văn Nho - Xuân Lương – Yên Thế - Bắc Giang
2093. Giáo viên Hà Tĩnh Phan, Đà Lạt
2094. Nhân sĩ Đặng Duy Phẩm, Hà Tây
2095. Công dân Lý Văn Phin - thị trấn Chũ, Bắc Giang
2096. Giáo viên Hoàng Khánh Phụng, Cà Mâu
2097. Giáo viên Từ Văn Phụng, Cà Mâu
2098. Giáo viên Trần Trùng Phùng, Long An
2099. Giáo viên Tôn Thất Mai Phương, Cà Mâu
2100. Công dân Nguyễn Văn Phương - Thị trấn Vôi, Bắc Giang
2101. Giáo viên Trần Hồng Quân, Đà Lạt
2102. Giáo viên Lê Nguyên Minh Quân, Long An
2103. Công dân Lương Thị Sáu - Tân Trung, Tân Yên, Bắc Giang
2104. Giáo viên Lê Văn Sinh, Đà Lạt
2105. Công dân Nguyễn Văn Sinh - Quế Nham, Tân Yên, Bắc Giang
2106. Công dân Nguyễn Thị Soan - Thôn Chùa, Xuân Lương, Lạng Giang, Bắc Giang
2107. Công dân Lê Thị Sử - Thị trấn Nếnh, Việt Yên, Bắc Giang
2108. Giáo viên Tạ Thị Minh Tâm, Bến Tre
2109. Công dân Nguyễn Thị Thanh - Đoan Bái, Hiệp Hoà, Bắc Giang
2110. Công dân Nguyễn Thị Thanh - Thị trấn Đồi Ngô - Lục Nam - Bắc Giang
2111. Giáo viên Nguyễn Văn Thanh, Cà Mâu
2112. Giáo viên Trần Thiên Thanh, Phú Yên
2113. Giáo viên Nguyễn Tất Thành, Long An
2114. Công dân Hà Văn Thao - Gia Tiến, Tân Trung, Tân Yên, Bắc Giang
2115. Giáo viên Nguyễn Thị Thắm, Long An
2116. Công dân Nguyễn Văn Thân - Thị trấn Nếnh, Việt Yên, Bắc Giang
2117. Thích Nữ Đàm Thoa - Chùa Nguyệt Nham - Tân Liễu – Yên Dũng - Bắc Giang
2118. Công dân Dương Văn Thơ - Nội Hàm, Yên Dũng, Bắc Giang
2119. Giáo viên Ngô Thị Phương Thu, Bến Tre
2120. Công dân Nguyễn Thị Thuần - Cầu Thương, Nhã Nam, Tân Yên, Bắc Giang
2121. Công dân Lương Thị Thuyên - Tiền Phong, Yên Dũng, Bắc Giang
2122. Công dân Nguyễn Thuyên - Yên Lư, Yên Dũng, Bắc Giang
2123. Công dân Hoàng Thị Toan - Cầu Thượng, Nhã Nam, Tân Yên, Bắc Giang
2124. Công dân Trương Thị Tống - Lục Nam - Bắc Giang
2125. Công dân Nguyễn Văn Trang - Chung 1, xã Tiên Sơn, Tân Yên, Bắc Giang
2126. Kỹ sư Nguyễn Thanh Trì, Bắc Ninh
2127. Giáo viên Trần Minh Triết, Sài Gòn
2128. Công dân Nguyễn Thị Trường - Dương Đức, Lạng Giang, Bắc giang
2129. Công dân Dương Thị Vang - Lục Nam - Bắc Giang
2130. Giáo viên Ngô Thị Thanh Vang, Bến Tre
2131. Giáo viên Ngô Vinh, Phú Yên
2132. Giáo viên Giáp Thị Vừng - Bắc Giang
2133. Giáo viên Ma Văn Vương, Sài Gòn
2134. Giáo viên Lê Văn Xoa, Bến Tre
w Các Chiến sĩ Dân chủ Hòa bình Khối 8406 hải ngoại đợt 12 :
3882. Lưu Việt, 12072 Ellen, Garden Grove, California, 92840 . USA
3883. Cypriano Bùi Văn Chánh, Australia
Khối 8406 hải ngoại đã đăng ký tham gia trên 06 Trang Web còn rất đông : tdngonluan.com ; tuyenngon2006.com ; tudongonluan.atspace.com: ; petitiononline.com/UNGHO118/petition.html ; petitiononline.com/Proj118/petition.html ; tudodanchuvietnam.net/phpPETITION ;... mà chúng tôi thật có lỗi khi chưa thể tổng kết chính xác được. Dịp kỷ niệm 2 tháng (08-6-2006), có một Bạn đã vui lòng thống kê giúp chỉ mới tại Web : tudongonluan.atspace.com mà thôi. Ngoài ra, có thể Quý Vị đã gửi thư đăng ký tham gia trực tiếp mà chúng tôi có thể chưa nhận được tin hoặc sơ sót. Nếu có Vị nào chưa có tên, kính mong Quý Vị cảm thông và vui lòng cho Văn phòng Khối 8406 biết. Email : VP8406VN@gmail.com hoặc VPLL8406VN@gmail.com.
Xin chân thành cảm ơn nhiều.
® 172 Chính khách quốc tế bảo trợ Khối 8406 :
5 Chính khách bảo trợ với tư cách Đại diện Tổ chức hoặc cá nhân :
1- Thierry Oppikofer, Chủ tịch Uỷ ban Thụy Sĩ - Việt Nam COSUNAM (19 Apr 2006)
2. Congressman Radomir Thomas Tylecote, Conservative Party, United Kingdom (1 Aug 2006)
3. Drs. Willem Koetsier, Secretary-General Universal Peace Federation The Netherlands (10 Aug 2006)
4. Congressman Frank R. Wolf, 10th District, Virginia, USA (26 Sep 2006)
5. Trần Dụng Lâm, Bí thư I Toà Đại sứ Trung Quốc (phản tỉnh), Australia
23 Chính khách đại diện các Tổ chức bảo trợ Tuyên Ngôn 8406
tại Hội Nghị Quốc Tế tại Berlin (14-18 May 2006)
về dân chủ hóa Trung Quốc và các Nước Á Châu :
6-28 :
1 (6). Pres. Willy Fautre´- Human Right Without Frontrier
2. Pres. Pei Liangyong - The Federation For A Demokratic China (FDC - Liên Minh Dân Chủ Trung Hoa)
3. Pres. Peng Xiaoming - The Soceity of the Chinese Student in Germany
4. Mr. Tobias Baumann - European Academy Berlin
5. Prof. Tonooka Teruo, Indenpendent Scholar of Politics
6. Mr. Seishu Makino, cựu dân biểu quốc hội Nhật Bản
7. Vice Scret. Gen. Song Yun Bok – Phái đoàn dân chủ Bắc Triều Tiên
8. Pres. Khin Maung Yin – Phái Đoàn Dân Chủ Miến Điện (Burma)
9. Pres. Xi Haiming - Nội Mông Nhân Dân Đảng
10. Prof. Tu - Đại diện Trung quốc Dân chủ Đảng tại Hoa Kỳ
11. Pres. Wang Jin Zhony - Alignment of Chinese Democracy
12. Central Member Zeng Dajun - Đảng Dân Chủ Xã Hội Trung Hoa (USA)
13. Mr. Chan Hing Tong - Trung Hoa Dân Hội (Hongkong)
14. Kotai Daisuke, Human Rights Organisation, Nhật Bản
15. Deputy Hongkong Leung Kwok Hung - April fifth Action (Hongkong)
16. Prof. Johnny Su (Đại diện FDC tại Toronto, Canada)
17. Prof. Chen Shizhong – Đại diện Chine Democracy (Sweden)
18. Mr. Gang Hiu (Đại diện FDC tại Denmark),
19. Mr. Vương Quốc Hưng, Hội Nghị Liên Tịch - Chủ tịch Phân Bộ Hòa Lan.
20. Pres. Jiren Huang - Chinese Alliance for Democracy (NSW. Australia),
21. Mr. Ando Kan, Human Rights activist (Tokyo),
22. Prof. Jiao Guobiao (Perking University),
23 (28). Writer Fu Zhengming – Sweden
50 Nhân sĩ Hiến chương 77 Tiệp Khắc (23 May 2006) :
29-78 :
1 (29). Zdeněk Bárta
2. Rudolf Battěk
3. Jan Bednář
4. Jiří Bednář
5. Otta Bednárová
6. Jarmila Belíková
7. John Bok
8. Jiří Boreš
9. Mikolas Chadima
10. Heřman Chromý
11. Cựu BT Ng giao Jiří Dienstbier
12. Jan Zeno Dus
13. Přemysl Fialka
14. Karel Freund
15. Jiří Gruntorád
16. Cựu Tổng thống Václav Havel
17. Nhà Phật học Jiří Holba
18. Jaroslav Hutka
19. Premysl Janýr
20. Helena Klímová
21. Vavrinec Korcis
22. Giám mục Václav Malý
23. Triết gia Dana Němcová
24. David Němec
25. Ondřej Němec
26. Martin Palouš
27. Petr Pithart
28. Věra Roubalová
29. František Rudl
30. Jan Ruml
31. Jan Schneider
32. Vojtěch Sedláček
33. Giáo sĩ Do Thái Karol Sidon
34. Cựu Bộ trưởng Jan Sokol
35. Jan Štern
36. Jan Šabata
37. Jaroslav Šabata
38. Anna Šabatová
39. Jiřina Šiklová
40. Libuše Šilhánová
41. Jan Šimsa
42. Václav Trojan
43. Trinkewitze
44. Petr Uhl
45. Jan Urban
46. Jiří Vančura
47. Zdeněk Vašíček
48. Tomáš Vrba
49. Václav Žák
50 (78). Jan Zvěřina
50 Dân biểu Hoa Kỳ (30 May 2006)
79-128 :
1 (79). DB Loretta Sanchez 2. DB Tom Davis 3. DB Chris Smith
4. DB Zoe Lofgren 5. DB Major Owens 6. DB Linda Sanchez
7. DB Shelley Berkley 8. DB Carolyn McCarthy 9. DB Grace Napolitano
10. DB Jim Matheson 11. DB Charles A. Gonzalez 12. DB Dan Boren
13. DB Ed Case 14. DB Allen Boyd 15. DB Alan B. Mollohan
16. DB Mike Thompson 17. DB Ellen Tauscher 18. DB Gene Taylor
19. DB Nita Lowey 20. DB Ed Pastor 21. DB Charlie Melancon
22. DB Bud Cramer 23. DB Ron Kind 24. DB Ben Chandler
25. DB Mike Ross 26. DB Mike Doyle 27. DB Leonard Boswell
28. DB Alcee Hastings 29. DB Brad Sherman 30. DB Dennis Cardoza
31. DB Ted Strickland 32. DB Sherrod Brown 33. DB Jan Schakowsky
34. DB Carolyn Maloney 35. DB Chris Van Hollen 36. DB Maurice Hinchey
37. DB Gary Ackerman 38. DB Raúl Grijalva 39. DB Kendrick Meek
40. DB Hilda Solis 41. DB Tim Ryan 42. DB Benjamin Cardin
43. DB Al Green 44. DB Mike Honda 45. DB Tammy Baldwin
46. DB Adam Schiff 47. DB Dan Burton 48. DB Susan Davis
49. DB Michael Mc Nulty 50 (128). DB Ed Royce
5 Chính khách Liên Hội Việt – Canada vận động
Ngày tự do, dân chủ cho Việt Nam tại Quốc Hội Canada 21 Jun 2006
129-133 :
1 (129). Bà Meili Faille (Bloc Québecois [Khối Québecois], Vaudreuil - Soulanges, Québec)
2. Alan Tonks (Liberal [Đảng Tự Do], York South - Weston, Ontario)
3. Derek Lee (Scarborough - Rouge River, Ontario)
4. Paul Dewar (NDP [Đảng Tân Dân Chủ], Ottawa Centre, Ontario)
5 (133). Rob Anders (Conservative [Đảng Bảo Thủ] Calgary West, Alberta)
34 - 39 Dân biểu – Thượng Nghị sĩ Australia